KS. Hồ Văn Lập - Trung tâm Khuyến nông Bến Tre

(Ảnh minh họa)
1. Hiện trạng
- Diện tích: Tỉnh Bến Tre có 71.460 ha đất trồng dừa, diện tích cho trái 64.647 ha, sản lượng 569.725 trái, năng suất bình quân 8.812 trái/ha/năm (thống kê 2017).
- Năng suất bình quân chưa cao một phần do dịch hại như bệnh thối trái, xì mủ thân do nấm Phytophthora palmivora và bọ vòi voi gây hại trái non và các bộ phận khác của cây như thân, gốc, rễ. Trong đó, thiệt hại do bọ vòi voi là khá trầm trọng nhưng việc kiểm soát là ngoài tầm với đối với nhiều nông hộ do dừa quá cao, việc phòng trị đòi hỏi nhiều lần mới đạt hiệu quả mong muốn.
- Diện tích dừa tăng hàng năm do chuyển dịch từ đất trồng lúa và cây ngắn ngày khác sang trồng dừa, nhưng quy mô vườn có xu hướng giảm do thừa kế từ cha mẹ sang các con.
- Cơ cấu giống: 90 % dừa lấy dầu, 10% dừa uống nước.
- Mật độ trồng: đa số trồng dày, nhiều cây xen không hiệu quả.
- Năng suất vườn thâm canh đạt 10.000- 12.000 trái khô/ha/năm (cao hơn 13,5-36,2%), 25.000- 30.000 trái tươi/ha/năm (cao hơn 2,84-3,40 lần) so với năng suất bình quân. Phần lớn dừa Bến Tre có chất lượng tốt do trồng trên đất phù sa mới.
- Lao động trẻ đang chuyển dịch mạnh ra khỏi vườn dừa nên đa phần nông hộ chỉ còn người cao tuổi và trẻ em, nên xảy ra thiếu lao động chăm sóc vườn.
- Đầu tư vốn, kỹ thuật vào vườn còn hạn chế, nhất là các năm giá dừa thấp.
- Nhiều nhà vườn chọn phân NPK trộn sẵn như NPK 20-20-15 để bón cho tiện nhưng không có lợi do có chi phí cao, thừa lân nhưng thiếu kali và các trung lượng so với cách bón phân đơn.
- Biện pháp trồng dừa như là cách giữ đất làm chỗ ở trên các vườn có diện tích ít, thiếu thâm canh nên có thu nhập từ dừa thấp, các nông hộ này sống chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập khác .
2. Hướng cải thiện thu nhập, hiệu quả kinh tế vườn dừa
a. Tỉa bớt cây kém hiệu quả, kết hợp thâm canh.
Tỉa bớt các cây kém hiệu quả gồm các cây dừa có năng suất và chất lượng kém, các cây xen cho hiệu quả thấp hoặc hiệu quả không rõ ràng.
Mật độ dừa và cây khác sau khi đốn tỉa còn lại từ 160- 180 cây/ha (dừa ta) hoặc 250- 280 cây/ha( dừa xiêm) là hợp lý.
Sau đó, tiến hành thâm canh bao gồm:
- Bón đúng, đủ, kịp thời phân bón: chọn giải pháp bón phân đơn với lượng trung bình 1 kg urea + 2kg lân super hoặc lân nung chảy + 1 kg kali clorua (kali muối ớt) + 10 gam hàn the cho mỗi cây dừa trong một năm. Với lượng phân này nhà vườn có thể chia làm 4-8 lần bón tùy theo điều kiện đặc thù của từng vườn để có chi phí thấp nhất, nhưng đáp ứng được lượng dinh dưỡng cân đối về thành phần gồm đạm (N), lân (P), kali (K); phân đơn còn có nhiều canxi (Ca), Manhê (Mg), Lưu huỳnh (S), Silic (Si), Clo (Cl) và một số vi lượng như bo (B), sắt(Fe), đồng (Cu), Molypden (Mo) là những chất trung vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và phát triển cho dừa. Về cách bón đối với phân hữu cơ và phân lân có thể tập trung bón 1 lần kết hợp với bồi bùn hàng năm để lấp phân dưới lớp bùn, hoặc chia đều cùng với các loại phân khác bón nhiều lần bằng cách rải đều dưới tán dừa cách gốc và mép mương 0,5m và tưới nước vừa đủ cho phân tan thấm đều vào trong đất. Riêng đạm và kali chia bón theo nguyên tắc (giảm đạm + tăng kali) trong lúc mưa nhiều và (giảm kali + tăng đạm) trong lúc nắng nhiều.
Bảng 1: So sánh hiệu quả kinh tế giữa bón phân đơn với phân hỗn hợp
Đơn vị tính: đồng/ cây/năm

Bảng 2: Chi phí sản xuất dừa
Đơn vị tính: đồng/ha/năm

- Mương vườn cần sâu tối thiểu khoảng 1,2 m, đủ rộng để có đủ đất cho liếp cao ráo, không bị ngập úng, có bồi bùn hàng năm để dừa phát triển tốt cho năng suất cao; có phủ liếp bằng thảm cỏ hoặc tàu dừa khô đậy úp trên liếp nhằm chống xói mòn, giữ ẩm và tăng chất hữu cơ cho đất.
Hàng năm, cần bón thêm vôi xám dolomite để khử chua, phèn, bổ sung canxi và manhê cho dừa với lượng 500-800 kg/ha/năm, bón tập trung vào đầu mùa mưa hoặc chia làm 2 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa.
Đối với các vườn dừa tơ cần theo dõi phòng trị bọ vòi voi, sâu ăn bông trái non, bọ dừa kịp thời bằng thuốc trừ sâu sinh học như Abamectin, Emamectin benzoate hoặc chế phẩm nấm xanh Metarhizium anisopliae kết hợp với chất bám dính phun đều lên các buồng trái từ 1- 4 tháng tuổi và lá đọt (cờ bắp) để giảm thiệt hại về năng suất, chất lượng trái. Nông dân cũng cần vệ sinh vườn, không để các đống hữu cơ dày hơn 5cm để hạn chế sùng đất (trưởng thành là kiến vương = bù xè) gây hại đọt dừa, từ đó sẽ tạo điều kiện cho đuông dừa tấn công kết hợp.
b. Tỉa thưa vườn dừa, kết hợp trồng xen bưởi da xanh.
Bố trí trên mỗi ha:
- Dừa ta (70-80 cây) hoặc dừa xiêm (120- 140 cây).
- Bưởi da xanh:120- 140 cây.
- Bưởi phải đúng giống, sạch sâu bệnh, là cây ghép trên gốc bưởi lông Cổ Cò hoặc bưởi bung.
Việc tỉa thưa dừa trồng xen bưởi chỉ nên tiến hành trên các chân đất phù sa mới, ít nhiễm phèn mặn, cao ráo. Bưởi phải được trồng, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật và an toàn thực phẩm mới đạt kết quả tốt.
c. Thanh lý vườn dừa lão để trồng mới dừa, bưởi da xanh
Lý do thanh lý: năng suất vườn giảm, công thu hoạch tăng làm giảm thu nhập.
- Trồng mới dừa uống nước như dừa xiêm xanh, dừa xiêm đỏ.
- Trồng mới dừa lấy dầu hoặc dừa uống nước xen bưởi da xanh ở những chân đất thích hợp cho bưởi.
- Trồng mới bưởi da xanh.
Có làm đất, bón lót phân (hữu cơ, hoá học), thuốc sát trùng, trồng đúng khoảng cách theo tài liệu hướng dẫn.
d. Tham gia chuỗi sản xuất, tiêu thụ dừa
Nông dân cần hợp tác với nhau dạng THT hoặc HTX và liên kết với doanh nghiệp kinh doanh, chế biến dừa sản xuất theo tiêu chuẩn doanh nghiệp yêu cầu để tiêu thụ sản phẩm sẽ có giá bán cao và ổn định hơn so với sản xuất riêng lẻ. Điều này, giúp nông dân có thu nhập cao hơn và doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong sản xuất, kinh doanh.
e. Nuôi xen dưới tán dừa
Tùy theo tín hiệu của thị trường, các hộ nông dân có điều kiện có thể nuôi xen gia súc, gia cầm, thủy sản phù hợp để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Ví dụ như nuôi dê, gà nòi, gà tre thịt cung cấp cho các quán ăn đặc sản của các khu du lịch; nuôi cá tai tượng, tôm càng xanh là những sản phẩm có giá khá ổn định trên thị trường nhưng không đòi hỏi chi phí cao và kỹ thuật quá khó khăn.
Ngoài ra, do tính đặc thù của từng địa phương, nông dân có thể khai thác thế mạnh của địa phương mình để đưa vào cơ cấu nuôi trồng phù hợp theo phương châm “mỗi xã một sản phẩm”./.