ICC: Tổng quan thị trường cơm dừa nạo sấy

Chuyên mục

Nhu cầu toàn cầu đối với cơm dừa nạo sấy đang gia tăng và Philippines và Indonesia là hai trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này lớn trên thế giới. Theo dữ liệu từ Cơ quan Thống kê Philippines, xuất khẩu cơm dừa nạo sấy của nước này có xu hướng tăng từ năm 2019 đến năm 2022.

Ảnh minh họa (Internet)

Năm 2019, nước này đã xuất khẩu 147.594 tấn cơm dừa nạo sấy, giảm nhẹ xuống 145.200 tấn vào năm 2020 nhưng sau đó tăng lên 160.117 tấn vào năm 2021. Dữ liệu mới nhất cho thấy xu hướng tiếp tục tăng, với khối lượng xuất khẩu ước tính là 163.169 tấn vào năm 2022.

Về điểm đến xuất khẩu, dữ liệu trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2022 cho thấy các quốc gia hàng đầu mà Philippines xuất khẩu cơm dừa nạo sấy là Hoa Kỳ với 36.852 tấn và Hà Lan với 27.991 tấn. Các điểm đến chính khác bao gồm Canada, Úc, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, tất cả đều nhập khẩu hơn 4.000 tấn mỗi nước. Dữ liệu này cho thấy nhu cầu về cơm dừa nạo sấy rất mạnh ở Bắc Mỹ và Châu Âu, cũng như ở Châu Á.

Trong khi đó, xuất khẩu cơm dừa nạo sấy của Indonesia giảm trong năm 2019 nhưng sau đó đã tăng trở lại. Năm 2018, Indonesia đã xuất khẩu 109.181 tấn cơm dừa nạo sấy, giảm xuống còn 98.742 tấn vào năm 2019 và sau đó tăng lên 128.087 tấn vào năm 2020. Năm 2021, xuất khẩu cơm dừa nạo sấy của Indonesia tiếp tục tăng, đạt 139.932 tấn. Tuy nhiên, dữ liệu mới nhất cho năm 2022 cho thấy mức giảm xuống còn 110.455 tấn.

Hình 1. Các điểm đến xuất khẩu cơm dừa nạo sấy từ Philippines, tháng 1-10 năm 2022 (Tấn)

Khi xem xét các thị trường xuất khẩu, thị trường xuất khẩu cơm dừa nạo sấy chính của Indonesia là Liên minh châu Âu (EU27), tiếp theo là Singapore và Liên bang Nga. Trung Quốc và Brazil cũng là những nhà nhập khẩu đáng kể cơm dừa nạo sấy của Indonesia. Điều đáng chú ý là trong năm 2022, khối lượng xuất khẩu sang tất cả các thị trường chính này đều giảm so với năm 2021.

Nhìn chung, dữ liệu cho thấy nhu cầu về cơm dừa nạo sấy vẫn mạnh ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong khi đại dịch đã gây ra một số biến động về khối lượng xuất khẩu, cả Philippines và Indonesia đều nhận thấy xu hướng tăng xuất khẩu cơm dừa nạo sấy của họ trong vài năm qua. Với nhận thức ngày càng tăng về lợi ích sức khỏe của các sản phẩm từ dừa, có khả năng nhu cầu về cơm dừa nạo sấy sẽ tiếp tục tăng, khiến nó trở thành một mặt hàng quan trọng đối với hai quốc gia này và nền kinh tế tương ứng của họ.

Bảng 1. Thị trường xuất khẩu cơm dừa nạo sấy từ Indonesia, 2018-2022 (Tấn)

Điểm đến

2018

2019

2020

2021

2022

Quốc gia khác

32,838

25,102

31,615

31,576

25,924

Thái Lan

586

1,850

6,215

4,187

3,016

Ai Cập

3,390

2,410

5,350

6,452

3,077

Vương Quốc Anh

3,401

3,017

2,795

3,583

3,120

Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất

4,526

4,527

4,166

5,861

3,211

Trung quốc

2,884

3,185

5,425

4,301

3,770

Thổ Nhĩ Kỳ

3,465

3,321

3,972

5,499

3,860

Brazil

4,676

5,169

4,730

4,512

5,049

Liên bang Nga

6,488

8,278

8,312

10,328

6,813

EU27

24,366

20,831

23,606

33,358

22,142

Singapore

22,562

21,052

31,900

30,276

30,473

Tổng cộng

109,181

98,742

128,087

139,932

110,455

 

Xem xét dữ liệu mới nhất về nhu cầu nhập khẩu, dự kiến lượng nhập khẩu cơm dừa nạo sấy trên toàn cầu tính theo tấn sẽ giảm đáng kể từ năm 2021 đến năm 2022, với mức giảm 29,7%. Sự sụt giảm này chủ yếu do nhu cầu giảm ở các nước châu Âu. Nhập khẩu sản phẩm của EU27 giảm 7,8% trong năm2022. Tuy nhiên, nhập khẩu của Mỹ vẫn tăng1,5%. Điều này cho thấy sự gián đoạn chuỗi cung ứng, đặc biệt là ở lục địa châu Âu, đã ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu của sản phẩm trở nên tồi tệ hơn do dự kiến kinh tế toàn cầu sẽ suy thoái trong những năm tới.

Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn vào xu hướng chung trong 10 năm qua, nhu cầu về cơm dừa nạo sấy tại EU27 và Hoa Kỳ đã tăng nhẹ. Điều này cho thấy rằng mặc dù có thể có những biến động ngắn hạn về mức nhập khẩu, nhưng nhu cầu tổng thể đối với cơm dừa nạo sấy vẫn tương đối ổn định trong thời gian dài. Trên thực tế, trong thập kỷ qua, nhập khẩu cơm dừa nạo sấy của hai khu vực chính là UE27 và Hoa Kỳ đã tăng với tốc độ CAGR lần lượt là 1,8% và 3,6%.

Bảng 2: Khối lượng cơm dừa nạo sấy xuất khẩu 2013-2022 (Tấn)

Năm

Thế giới

EU27

Hoa Kỳ

2013

627,355

90,331

39,512

2014

420,373

103,376

52,259

2015

440,774

94,421

53,696

2016

423,896

104,508

48,107

2017

439,129

111,551

46,590

2018

458,789

108,320

48,067

2019

451,727

103,385

45,531

2020

483,005

100,657

41,056

2021

517,302

115,103

53,568

2022e

363,410

106,074

54,372

                                         Nguồn: ITC và Cục điều tra dân số Hoa Kỳ e: số liệu ước tính

Giá cơm dừa nạo sấy (DC) có xu hướng giảm trong suốt năm 2022, với giá ở Philippines, Indonesia và Sri Lanka đều giảm. Tháng 2/2022, giá DC tại Philippines cao nhất trong năm đạt 2.721 USD/tấn nhưng đến tháng 1/2023 giảm xuống còn 1.874 USD/tấn. Tương tự, ở Indonesia và Sri Lanka, giá giảm lần lượt là 29% và 21% trong 12 tháng qua.

Một yếu tố có thể đã góp phần vào xu hướng giảm giá của DC là tỷ lệ lạm phát cao ở một số nước châu Âu và Hoa Kỳ. Điều này có thể làm giảm sức mua của người tiêu dùng, dẫn đến tình trạng giảm nhu cầu đối với các sản phẩm từ dừa, bao gồm cả cơm dừa nạo sấy. Ngoài ra, suy thoái kinh tế dự kiến ​​trong năm tới cũng có thể là một yếu tố góp phần xu hướng giảm giá.

Hình 2. Giá dừa nạo sấy hàng tháng (USD/Tấn), tháng 1/2018-1/2023


 

Nguồn: HHD, được dịch từ bản tin “COCOMMUNITY, VOL. LIII NO. 2, February 2023”