ICC: Tổng quan thị trường cơm dừa nạo sấy

Chuyên mục

Nhu cầu toàn cầu về cơm dừa nạo sấy đã tăng đáng kể, trong đó Philippines và Indonesia nổi lên là những nước đóng góp quan trọng cho sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này.

Ảnh minh họa

Philippines đã thể hiện quỹ đạo tăng trưởng nhất quán trong xuất khẩu cơm dừa nạo sấy trong những năm gần đây. Năm 2019, cả nước đã xuất khẩu 147.594 tấn, giảm nhẹ xuống còn 145.200 tấn vào năm 2020. Tuy nhiên, đã tăng trở lại lên 160.117 tấn vào năm 2021 và duy trì con số ổn định là 156.930 tấn vào năm 2022. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây nhất từ Cơ quan Thống kê Philippines trong nửa đầu năm 2023 chỉ ra xu hướng giảm, với khối lượng xuất khẩu giảm xuống còn 74.640 tấn, giảm 13% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 1. Điểm đến xuất khẩu dừa nạo sấy từ Philippines, từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2023 (tấn)

Các điểm đến xuất khẩu hàng đầu của cơm dừa nạo sấy Philippines trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2023 bao gồm Hoa Kỳ và Hà Lan, nhập khẩu lần lượt 23.369 tấn và 18.947 tấn. Các điểm đến quan trọng khác bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Canada, Trung Quốc và Vương quốc Anh, mỗi nước nhập khẩu hơn 2.000 tấn. Dữ liệu này nhấn mạnh nhu cầu mạnh mẽ về cơm dừa nạo sấy trên khắp Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á.

Hình 2. 10 điểm xuất khẩu hàng đầu của dừa nạo sấy từ Indonesia (tấn), từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2022/2023

 

Trong trường hợp của Indonesia, xuất khẩu cơm dừa nạo sấy sụt giảm trong năm 2019 nhưng sau đó đã phục hồi. Năm 2018, Indonesia đã xuất khẩu 109.181 tấn, giảm xuống còn 98.742 tấn vào năm 2019 nhưng sau đó tăng lên 128.087 tấn vào năm 2020. Xu hướng tăng tiếp tục vào năm 2021, đạt 139.932 tấn nhưng giảm xuống 110.455 tấn vào năm 2022. Tuy nhiên, Tính đến quý 3 năm 2023, khối lượng xuất khẩu của Indonesia đạt 83.796 tấn, vượt qua khối lượng 82.796 tấn của năm 2022.

Các thị trường xuất khẩu cơm dừa nạo sấy chính của Indonesia là Liên minh châu Âu (EU27), tiếp theo là Singapore và Liên bang Nga. Trung Quốc, UAE và Đức cũng là những nhà nhập khẩu đáng kể.

Bảng 1. Khối lượng nhập khẩu (tấn) cơm dừa nạo sấy, 2014-2023

 

Năm

Thế giới

EU27

Hoa Kỳ

2014

420,373

103.376

52.259

2015

440.774

94.421

53.696

2016

423.896

104.508

48.107

2017

439.129

111.551

46.590

2018

458.789

108.320

48.067

2019

451.727

103.385

45.531

2020

483.005

100.657

41.056

2021

517.302

115,103

53.568

2022

466.941

118.291

54.372

2023F

405.297

94.763

42,405

Nguồn: ITCand Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, F: số liệu sơ bộ

Nhu cầu toàn cầu về cơm dừa nạo sấy vào năm 2023 được dự đoán sẽ giảm, tiếp tục xu hướng được quan sát vào năm 2021 và 2022. Đáng chú ý, nhập khẩu cơm dừa nạo sấy toàn cầu đã giảm đáng kể từ năm 2021 đến năm 2022, với mức giảm 29,7%, chủ yếu là do do nhu cầu giảm dần ở các nước châu Âu. Xu hướng giảm trong năm 2023 chủ yếu bị ảnh hưởng bởi nhu cầu suy yếu ở các nước Châu Âu và Hoa Kỳ, với khối lượng nhập khẩu tại EU27 dự kiến giảm 20% và nhập khẩu vào Mỹ dự báo giảm 22%. Trong thập kỷ qua, cả EU27 và Hoa Kỳ đều cho thấy nhu cầu về cơm dừa nạo sấy giảm nhẹ, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) lần lượt là -1% và -2,3%.

Giá cơm dừa nạo sấy có xu hướng giảm trong suốt năm 2023 tại Philippines, Indonesia và Sri Lanka. Tính đến quý 3 năm 2023, giá cơm dừa nạo sấy trung bình ở Philippines là 1.787 USD/tấn, giảm 27% so với cùng kỳ năm 2022. Tương tự, giá cơm dừa nạo sấy trung bình ở Indonesia và Sri Lanka cũng có dấu hiệu giảm. xu hướng này, với giá trung bình hàng tháng lần lượt là 1.431 USD/tấn và 1.614 USD/tấn, phản ánh mức giảm 21% và 14%.

Một yếu tố góp phần tiềm ẩn khiến giá giảm là tỷ lệ lạm phát cao được quan sát thấy ở một số nước châu Âu và Mỹ, điều này có thể làm giảm sức mua của người tiêu dùng, sau đó làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm dừa, bao gồm cả cơm dừa nạo sấy. Ngoài ra, dự đoán suy thoái kinh tế trong tương lai gần có thể tác động thêm đến nhu cầu và giá cả tại thị trường này.

Hình 3. Giá dừa nạo sấy hàng tháng (USD/tấn), tháng 1 năm 2018- tháng 9 năm 2023

 

Nguồn: HHD, được dịch từ bản tin “The COCOMM UNITY, VOL. LIII NO. 10, October 2023”