ICC:Tổng quan thị trường dầu dừa

Chuyên mục

Vào năm 2023, thị trường dầu lauric toàn cầu đã trải qua những biến động giá đáng chú ý, mang đến những hiểu biết sâu sắc về động lực của ngành. Trong suốt khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2023, giá dầu dừa vẫn tương đối ổn định, bắt đầu ở mức 1.071 USD/tấn vào tháng 1 và có biến động nhẹ, giảm xuống còn 993 USD/tấn vào tháng 6 trước khi tăng lên US31,118/tấn vào tháng 12 năm 2023. Sự ổn định chủ yếu là do sự cân bằng giữa cung và cầu. Tuy nhiên, với kỳ vọng về nhu cầu tăng và khả năng nguồn cung giảm, triển vọng giá dầu dừa cho thấy một quỹ đạo đi lên trong những tháng tiếp theo

Ảnh minh họa

Ngược lại, giá dầu hạt cọ giảm dần trong cùng khung thời gian, bắt đầu từ mức 1.060 USD/tấn vào tháng 1 năm 2023 và giảm dần xuống mức 966 USD/tấn vào tháng 12 năm 2023, trung bình ở mức 990 USD/tấn. Các yếu tố khác nhau, bao gồm cả nguồn cung ứng thị trường, đã đi vào xu hướng giảm xuống, khi thị trường dầu thô điều chỉnh theo các điều kiện phát triển, giá dầu hạt cọ được dự đoán sẽ có những điều chỉnh phù hợp, với triển vọng giá được cải thiện trong những tháng tới.

Khoảng thời gian kéo dài từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2023 có ​​những thay đổi đáng kể trong cung cấp dầu thô, trong đó Philippines và Indonesia thể hiện rõ rệt

Biểu đồ 1. Giá dầu La uric tháng 1/2018 - tháng 12/2023, (USD/tấn)


Hình 2. 10 điểm đến xuất khẩu dầu dừa hàng đầu của Philippines từ tháng 1- 8 năm 2023


Philippines, nổi tiếng về dầu dừa sản xuất và xuất khẩu có sự sụt giảm đáng kể về kết quả xuất khẩu trong 8 tháng năm 2023. Dữ liệu từ Cơ quan Thống kê Philippine Xuất khẩu dầu dừa của cả nước đạt 752.504 tấn trong thời gian này, đánh dấu mức tăng đáng kể 12,5% giảm so với năm trước. Sự giảm này có thể được quy cho sự kết hợp của giảm cầu và cung tăng. Các điểm đến chính cho những mặt hàng xuất khẩu này bao gồm Hà Lan, Mỹ, Ý, Malaysia, Tây Ban Nha và Trung Quốc

 

Bảng 1. Xuất khẩu dầu Lauric từ Indonesia

 

Tháng 1-11/ 2022

Tháng 1-11/2023

Giá trị (%)

Dầu dừa

Khối lượng (tấn)

618.731

663.644

7.3

Giá trị (nghìn USD)

1.018.915

664.216

-34,8

Dầu cọ

Khối lượng (tấn)

1.227.055

1.238.677

0,9

Giá trị (nghìn USD)

1.900.109

1.177.410

-38,0

Dầu

Lauric

 

Khối lượng (tấn)

1.845.786

1.902.320

3.1

Giá trị (nghìn USD)

2.919.024

1.841.626

-36,9

 

Nguồn: BPS-Statistics Indonesia

Bảng 2. Nhập khẩu dầu lauric của Liên minh Châu Âu (EU28)

 

Tháng 1-11/ 2022

Tháng 1-11/2023

Thay đổi (%)

Dầu dừa

Khối lượng (tấn)

932.344

899.542

-3,5

Giá trị (nghìn USD)

1.793.570

1.244.354

-30,6

Dầu cọ

Khối lượng (tấn)

701.014

712.781

1.7

Giá trị (nghìn USD)

1.369.276

983.086

-28,2

Dầu

Lauric

 

Khối lượng (tấn)

1.633.359

1.612.322

-1,3

Giá trị (nghìn USD)

3.162.846

2.227.440

-29,6

Nguồn: ITC

 

Bảng 3. Nhập khẩu dầu Lauric của Hoa Kỳ

 

 

Tháng 1-11/2022

Tháng 1-11/2023

Giá trị

(%)

Dầu dừa

Khối lượng (tấn)

498.299

389.031

-21,9

Giá trị (nghìn USD)

1.022.598

525.588

-48,6

Dầu cọ

Khối lượng (tấn)

314.312

313.625

-0,2

Giá trị (nghìn USD)

697.912

417.644

-40,2

Dầu

Lauric

 

Khối lượng (tấn)

812.611

702.656

-13,5

Giá trị (nghìn USD)

1.720.510

943.232

-45,2

Nguồn: Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, Phòng Chỉ số Kinh tế

 

Ngược lại, Indonesia chứng kiến xuất khẩu dầu dừa tăng đột biến trong 11 tháng năm 2023. Nước này đã vận chuyển 663.644 tấn dầu dừa ra thị trường toàn cầu, tăng 7,3% so với khối lượng của năm trước. Tuy nhiên, bất chấp khối lượng xuất khẩu tăng, kim ngạch xuất khẩu giảm từ 1,02 tỷ USD xuống 664,2 triệu USD, phản ánh đơn giá dầu thấp hơn. Các thị trường chính cho xuất khẩu dầu dừa của Indonesia bao gồm Malaysia, Hà Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Sri Lanka.

Thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ, những thị trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động buôn bán dầu lauric toàn cầu, đã chứng kiến những thay đổi đáng chú ý về nhu cầu trong 11 tháng năm 2023.

Thị trường châu Âu có sự sụt giảm nhẹ về nhập khẩu dầu lauric trong giai đoạn này, với lượng nhập khẩu giảm 1,3%. Dầu dừa là nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm này. Suy thoái kinh tế ở châu Âu đóng một vai trò then chốt trong việc giảm nhu cầu về dầu dừa và các loại dầu lauric khác. Tuy nhiên, vẫn có những kỳ vọng về sự phục hồi khi nền kinh tế khu vực có dấu hiệu cải thiện.

Tương tự, thị trường Hoa Kỳ chứng kiến lượng nhập khẩu dầu lauric giảm đáng kể trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2023. Nhập khẩu các loại dầu này giảm mạnh 13,5%, chủ yếu là do nhập khẩu dầu dừa tăng đột biến. Nhập khẩu dầu dừa của Mỹ giảm từ 498,3 nghìn tấn trong tháng 1 đến tháng 11 năm 2022 xuống còn 389 nghìn tấn trong cùng kỳ năm 2023. Suy thoái kinh tế ở Mỹ ảnh hưởng đáng kể đến sự sụt giảm nhập khẩu này.

Cần lưu ý rằng sự sụt giảm nhu cầu về dầu lauric ở cả thị trường châu Âu và Mỹ dự kiến chỉ là nhất thời. Khi nền kinh tế của các khu vực này dần phục hồi, nhu cầu về các loại dầu này được dự đoán sẽ tăng trở lại, có khả năng kích thích tăng trưởng trong hoạt động buôn bán dầu lauric.

Năm 2023 có nhiều xu hướng khác nhau trong thương mại dầu lauric toàn cầu, đặc trưng bởi sự biến động đáng kể về giá, cung ứng tương phản ở Philippines và Indonesia, cũng như sự thay đổi nhu cầu ở thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ. Trong khi thị trường dầu lauric thích nghi với sự suy thoái kinh tế ở các khu vực nhập khẩu chính, vẫn có sự lạc quan về sự phục hồi nhu cầu khi các nền kinh tế này cải thiện. Khi động lực cung và cầu điều chỉnh lại, người ta dự đoán rằng giá dầu lauric sẽ có những thay đổi tích cực trong tương lai gần, phản ánh bối cảnh phát triển của thương mại dầu lauric toàn cầu.

 

Nguồn: HHD, được dịch từ bản tin “The COCOMMUNITY, VOL. LIV NO. 1, January 2024”