Về Mỏ Cày Nam, vừa qua chợ thị trấn, vào một quán nước ở ngã ba đường rẽ về “cái nôi Đồng Khởi”, hỏi thăm bà chủ quán nước, bà bảo: “Năm nay là 50 năm sau ngày Đồng Khởi. Lúc ấy tôi chỉ có 6 tuổi, chưa biết gì, nhưng mỗi năm kỷ niệm, lòng tôi cứ bồi hồi, lâng lâng khó tả”! Vâng, rất khó có một ngày kỷ niệm nào được như vậy. Ngày “17 tháng Giêng” đã đi vào lòng người không chỉ là truyền thống, mà còn là phát huy truyền thống.

Khu lưu niệm Đồng Khởi đặt tại "cái nôi", xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam , Bến Tre.(Ảnh tư liệu)
Lịch sử mãi không phai mờ
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Mỏ Cày ghi lại: 7 giờ sáng ngày 17/1/1960, được tin đội Tý cùng Năm Vị (cảm tình của ta) mang khẩu tiểu liên ra ngã tư Định Phước uống cà phê. Lực lượng ta tổ chức thành hai tổ giả đi tảo mộ. Tổ một gồm Bảy Thống, Chín Định, Chín Chiêm chịu trách nhiệm diệt đội Tý. Tổ hai gồm Ba Giai, Ba Kỉnh và Tám Dũng có nhiệm vụ truy cản bọn lính ra tiếp viện hoặc chặn đội Tý nếu hắn chạy thoát. Nhưng vì quá nôn nóng, nên tổ hai cũng xuống ngã tư hỗ trợ tổ một. Đến ngã tư thấy đội Tý và Năm Vị đang ngồi trong quán, Bảy Thống bước vào giả xin nước uống, ngồi gần Năm Vị, lực lượng còn lại cũng bước vào. Thừa lúc đội Tý sơ hở, Ba Giai nhanh chóng quật ngả hắn, Bảy Thống và Chín Định xông vô hỗ trợ, tước của đội Tý hai trái lựu đạn, đội Tý chống cự quyết liệt. Biết không bắt sống được, Chín Chiêm liền lấy súng của Năm Vị bắn đội Tý chết tại chỗ. Lúc đó, hai tổ vũ trang vừa mới thành lập, cùng trên 150 quần chúng kéo đến nhanh chóng sắp xếp hàng ngũ tấn công bọn địch còn lại. Hai giờ sau cuộc khởi nghĩa ở Định Thủy kết thúc, ngay trong ngày 17/1, gần 2.000 đồng bào Định Thủy trương băng, cờ phướn khởi họp míttinh mừng thắng lợi. Sáng ngày 18/1, Quận trưởng Mỏ Cày cho lính đi 3 ghe theo đường cầu Ông Bồng xuống cứu nguy. Ta chặn đánh, bắn chết một trung úy chỉ huy và hai tên khác, chúng hoảng sợ, chạy về quận.
Sau đó, Bình Khánh, Phước Hiệp cũng được giải phóng. Đến ngày 25/1, chính quyền về tay nhân dân trên hai phần ba số xã trong toàn huyện. Để đàn áp cuộc khởi nghĩa, giặc huy động 10.000 quân của huyện, tỉnh, có cả Sài Gòn bao vây 3 xã Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp, hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng trong trứng nước. Đối phó với giặc, ta liền tổ chức trên 10.000 người dân, kể cả trân, bò, gia cầm đến xung quanh dinh quận tránh bom đạn, đồng thời kêu gọi Quận trưởng phải rút quân về cho dân yên ổn làm ăn. Cuối cùng kẻ thù phải chấp nhận. Kế sách đó sau này gọi là “tản cư ngược”. “Đội quân tóc dài” ra đời và phương châm tấn công địch bằng “hai chân, ba mũi” cũng được hình thành từ đây.
50 năm nhìn lại, hỏi đồng chí Trần Thanh Phong, bí thư Huyện ủy Mỏ Cày Nam: “Nói thắng trong quân sự là có nhiều yếu tố lắm. Nhưng ở đây, tôi chỉ lưu lý là thời cơ và khả năng nắm bắt thời cơ, cùng với lòng dân đang sôi sục căm thù giặc, quyết đứng dậy đòi lại quyền sống, quyền tự do và quyền tự quyết của một dân tộc anh hùng hơn bao giờ hết”.
Phát huy truyền thống
Sau ngày giải phóng, “ba không” – không điện, không trường, không trạm gần như phủ kín nông thôn Mỏ Cày Nam, đời sống người dân thật sự khốn khó. Anh Trần Thanh Phong, nói: “Mỗi người đều có cảm nhận về quê hương thân yêu của mình, nhưng riêng tôi nổi bật vẫn là kinh tế phát triển; đời sống người dân không ngừng tăng lên, không còn đói, giảm được nghèo, hộ có của ăn của để ngày càng nhiều; ngày càng làm sống lại truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình làng, nghĩa xóm thắt chặt; giao thông nông thôn phát triển đến tận ngõ, xóm; nội bộ một lòng, tình Đảng, quân, dân đong đầy”.
Ngược dòng thời gian hơn 34 năm, Mỏ Cày Nam phổ biến là cây lúa, cây mía, cây dừa, do chiến tranh tàn phá, thu nhập không là bao, với gần phân nửa là hộ nghèo, thì mới thấy trong báo cáo năm 2009 của huyện ủy “Tốc độ tăng trưởng đạt 10,46%, thu nhập bình quân đầu người gần 12 triệu đồng” là có ý nghĩa cực kỳ lớn, không chỉ là sự nỗ lực trong một thời gian dài của con người nơi đây, mà đó còn là giá trị tích cực trong thời kỳ vượt qua khủng hoảng hiện nay.
Nhìn cây trồng, vật nuôi tiếp tục chuyển đổi theo hướng: một phần diện tích đất sản xuất kém hiệu quả chuyển sang trồng cây ăn trái, trồng hoa màu theo hướng thâm canh và phát triển chăn nuôi mà ai cũng phải ngỡ ngàng. Năm năm về trước, huyện uỷ có cả một nghị quyết về việc này. Cho nên cây, con trong huyện đã có sự “sắp xếp” lại, diện tích lúa, mía thì giảm trên 500 ha nhường chỗ cho cây dừa, đặc biệt là trong năm 2009 cây ca cao xen trong vườa dừa được 222 ha, nâng tổng số trong toàn huyện lên gần 700 ha, trong đó có 150 ha cho trái, nâng giá trị trên một diện tích đất trồng dừa tăng lên gấp đôi, ba lần. Chăn nuôi là tập trung vào ba con: đàn heo trên 100 ngàn con, chủ yếu là hình thức trang trại để phát triển khép kín, hạn chế ô nhiễm môi trường; đàn bò trên 23 ngàn con; dưới kênh, mương là con tôm càng xanh phát triển với mô hình liền canh, liền cư vừa phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập nhưng lại giữ được an ninh trật tự.
Trên lĩnh vực nông nghiệp là vậy, còn công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu là chế biến thức ăn gia súc và thủy sản, sản phẩm chế biến từ dừa, như chỉ xơ dừa, thảm dừa, thạch dừa,… Thương mại và dịch vụ cũng khởi sắc: các chợ trên địa bàn từng bước được nâng câp trong từng xã, điện đã cung cấp được 99,2% hộ dân, bình quân điện thoại đạt 26,8 máy/100 dân.
Nếu như sông, rạch Mỏ Cày Nam tạo nên mạng lưới giao thông thủy rất thuận lợi, xuồng, ghe có thể thông suốt tận xã, ấp trong huyện, không những thế, tàu thuyền còn đi khắp trong tỉnh và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long, thì ngược lại, cũng là trở ngại lớn nhất cho việc phát triển đường bộ. Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống giao thông nông thôn với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, “nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ” đã được triển khai rộng khắp và sắp đạt đến mục tiêu “xe hơi đến làng, honda đến ngõ”.
Mỏ Cày Nam còn là mảnh đất có trữ lượng văn hóa dân gian đáng kể. Những câu hò, câu ca dân gian phản ánh khá đầy đủ tinh thần và khí tiết trong quá trình khai phá đất đai từ buổi đầu, đến những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của phong kiến và thực dân. Giờ đây, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa không chỉ phát triển theo chiều rộng là 100% ấp, 89/92 cơ quan và 8 xã được công nhận đạt chuẩn văn hóa, mà còn đi vào ngóc ngách của cuộc vận động này: tình làng, nghĩa xóm thắt chặt; tiếng mõ Đồng Khởi năm xưa, nay trở thành tiếng mõ an ninh giữ an giấc cho xóm làng; trường học đã phủ kín đến xã, ấp; môi trường được cải thiện; hộ nghèo chỉ còn 10,53%,…
Thắng lợi của cuộc Đồng Khởi ở Mỏ Cày nói chung đã chứng tỏ sự vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương Đảng, mà cụ thể là Nghị quyết 15, phát huy được tính năng động, sáng tạo của “sức mạnh quần chúng”. Nắm vững Nghị quyết và vận dụng linh hoạt sáng tạo phương châm, phương pháp cách mạng của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương, xây dựng đảng bộ vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng… là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đang được Đảng bộ huyện Mỏ Cày Nam vận dụng trong điều kiện sắp tới. Với truyền thống Đồng Khởi năm xưa, cùng với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Mỏ Cày Nam sẽ vượt qua khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi trong công cuộc “Đồng Khởi mới”, ngày càng tiến dần đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Người viết: Lê Quang Nhung