Sự hình thành xứ dừa

Đặc điểm địa lý tỉnh Bển Tre

Sự hình thành xứ dừa

Từ thiên nhiên - Chỉ dẫn địa lý
 

Đặc điểm địa lý tỉnh Bển Tre
Bến Tre, một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cách Thành phố Hồ Chí Minh 87 km về phía tây. Diện tích tự nhiên tỉnh Bến Tre là 2.315,01 km2, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biến Đông. Bốn con sông lớn: Sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc và chia Bến Tre thành ba cù lao: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh.
Đất Bến Tre là một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành từ những cù lao riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền. Những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao dần dần bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay. .
Bến Tre có dáng hình một tam giác cân, cạnh đáy tiếp giáp với biển có chiều dài 65 km. Địa hình Bến Tre tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 1- 2 m so với mực nước biển. Ở những vùng đất giồng cũng chỉ cao hơn địa hình bình thường từ 3 - 5 m. Bến Tre bồn bề sông nước, kênh rạch chằng chịt (tống cộng chiều dài xấp xỉ 6.000 km), rất thuận lợi cho giao thông thuỷ và phát triển nông nghiệp.
Dải cù lao này có 4 nhóm đất chính là đất cát, đất phù sa, đất phèn và đất mặn. Trong đó, nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất 43,11%, nhóm đất cát chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích thấp nhất 6,4% diện tích toàn tỉnh.
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26°c - 27°c. Tuy tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp. Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam nên có 2 mùa rõ rệt. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm - 1.500 mm.

 


Sự hình thành xứ dừa
Từ địa hình tự nhiên là một vùng rừng rậm, đầm lầy hoang vu đầy dã thú, cách đây 300 năm những cư dân Bến Tre đầu tiên từ miền Trung vào lập nghiệp đã chọn các giồng đất cao ven biển lập cư sinh sống để tranh thú dữ và lũ lụt. Họ đã phát huy những kinh nghiệm sản xuất ở quê nhà, chặt cây phá rừng làm nhà và lấy đất canh tác. Dần dà họ đã biến rừng thành những thôn xóm và những cáng đồng bát ngát, những vườn dừa bạt ngàn, những vườn cây ăn trái tươi tốt.
Từ xưa đến giờ, Dừa là loại cây trồng lâu năm chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống cây trồng của Bến Tre. Cây dừa và hoạt động sản xuất, chế biến dừa đã tạo nên một diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường đặc biệt trên vùng đất hạ nguồn Mekong. Diện mạo ấy không ngừng biến đối và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển xứ dừa Bến Tre.
Cả nước hiện có khoảng 200.000ha trồng dừa thì Bến Tre là tỉnh dẫn đầu trên cả hai mặt: diện tích (gần 65.000ha) và sản lượng (540 triệu quả/năm). Bến Tre là những cụm cù lao cuối cùng nhận đâm phù sa của dòng Mekong trước khi chảy ra biển cả, nhờ đó cây dừa cũng xanh tốt hơn, năng suất cao hơn các vùng khác. Ba huyện có diện tích dừa lớn ở Bến Tre là Giồng Trôm, Châu Thành và Mỏ Cày (khi chưa tách huyện, nay là Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc).
Chỉ trong vòng hai thế kỷ, những vùng đất hoang vu đầy dã thú nằm trên các cù lao ở hạ nguồn sông Cửu Long đã trở thành trung tâm sản xuất dừa, trái cây, ngon nối tiếng trong cả nước.

 



Cho chất lượng vượt trội
Từ đất, nước, truyền thống canh tác - văn minh nông nghiệp, vị trí địa lý đã trình bày như trên - vùng đất Bến Tre được khai phá hơn 200 năm - đã cho chúng ta một sản vật quý giá - Dừa nơi đây cho chất lượng vượt trội so với các nước khác. Mặc dù chúng ta chưa có luận chứng khoa học rõ nét về chất lượng, mà chỉ bằng nhận xét của các chuyên gia trong và ngoài nước cũng như khách hàng mua các sản phẩm từ dừa.
- Gáo dừa cứng nhất, cho than hoạt tính tốt nhất; Cơm dừa béo hơn; Chỉ xơ dừa cũng bền hơn...
Từ chất lượng dừa cao như đã thấy mà không dừng lại đây, những Nhà khoa học, Nhà nông, Nhà kinh doanh, Nhà sản xuất, cơ quan quản lý của tỉnh luôn luôn nghiên cứu, sáng tạo, nâng cao chất lượng để phục vụ cho người tiêu dùng toàn cầu những sản phẩm từ dừa thật hữu cơ và thân thiện hơn.
- Cũng bằng những yếu tố nói trên, cơ sở hình thành "Bộ chuẩn chỉ dẫn địa lý" cho những sản phẩm từ dừa được sản xuất trên vùng đất Bến Tre, để gìn giữ uy tín chất lượng, chống xâm hại đến xuất xứ sản phẩm mà người tiêu dùng đòi hỏi.
Một thí dụ cụ thể cho sản phẩm ít để ý đến như: Chai nước màu dừa dùng trong món cá kho hoặc thịt kho. Mặc dù sản phẩm này thương hiệu không sản xuất tại Bến Tre và lại nấu từ mật đường mía (có chất lượng và mùi vị không bằng nấu từ nước dừa) nhưng trên nhãn họ vẫn ghi là Nước màu dừa Bến Tre.
BBT (Tống hợp)



Theo Sách "Câu chuyện cây dừa" do Công ty PN Tri Nhân thực hiện và phát hành trong Lễ hội Dừa Bến Tre lần thứ IV - năm 2015.